HOÀNG KỲ – VỊ THUỐC QUÝ

Ngày đăng bài: 2015-09-25 09:49:17
        Xem với cỡ chữ    

Hoàng kỳ là vị thuốc bổ khí được dùng lâu đời ở nước ta, hiện tại vẫn chủ yếu được nhập từ Trung Quốc hàng trăm tấn mỗi năm. Hoàng kỳ đã được di thực trồng thử nghiệm ở Sa Pa và Đà Lạt nhưng số lượng vẫn còn hạn chế.

 

Ảnh 1: Cây Hoàng kỳ được trồng tại Trung Quốc (黄芪Huangqi)

 

Hoàng Kỳ thuộc họ Đậu. Bộ phận dùng: Rễ củ. Theo Y học hiện đại, Hoàng kỳ là một "adaptogen" – tạm dịch là "chất thích nghi". Nói một cách khái quát thì Linh chi, Đông trùng hạ thảo, Nhân sâm,.. đều được coi là các "Adaptogen"1.

 

Hoàng kỳ nói riêng và các cây thuộc chi Astragalus trong họ Đậu nói chung có nhiều ứng dụng dược lý rất đáng quan tâm: hỗ trợ điều trị suy giảm miễn dịch, tăng cường thể trạng cho bệnh nhân ung thư, hỗ trợ tăng sức đề kháng  cho tim và thận. Y học cổ truyền phương Đông cũng ghi nhận Hoàng kỳ là vị thuốc bổ cho Tỳ, Khí và Huyết2

 

Phân tích hóa dược cho thấy Hoàng  kỳ chứa các thành phần polysaccharides, saponins, flavonoids, amino acids và các nguyên tố vi lượng khác3 . Trong đó thành phần polysaccharides F3 đặc biệt rất được quan tâm nhờ tác dụng điều hòa miễn dịch. Cơ chế điều hòa này rất đa dạng: tăng số lượng tế bào gốc trong tủy và mô bạch huyết, kích hoạt các tế bào  miễn dịch từ trạng thái "nghỉ" sang chủ động. Rễ cây Hoàng kỳ có tác dụng tăng cường hệ miễn dịch đường hô hấp, số lượng bạch cầu cũng như các globulin miễn dịch4 .

 

Trong một thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên tại Trung Quốc, 115 bệnh nhân (BN) mắc chứng giảm bạch cầu (leukopenia) được cho sử dụng Hoàng  kỳ liều cao và thấp (10g/ngày và 30g/ngày) trong vòng 8 tuần. Kết quả cho thấy số lượng bạch cầu của BN tăng rõ rệt5.

 

Thành phần saponins trong Hoàng kỳ có tác dụng tích cực lên hệ tim mạch, thông qua sự ức chế hình thành các peroxide mỡ trong màng tim và giảm đông tụ máu. Theo một nghiên cứu đăng trên tạp chí Trung Quốc về điều trị các bệnh thận dựa trên kết hợp y học cổ truyền và hiện đại (中国中西医结合肾病杂志- Chinese journal of integrated traditional and western nephrology)6 , Hoàng kỳ có tác dụng chống ô-xy hóa và tăng lực co bóp của tim ở 43 BN bị nhồi máu cơ tim cấp. Cũng được đăng trên tạp chí này là một nghiên cứu khác trên 92 BN bị thiếu máu cơ tim (ischaemic heart disease), quá trình điều trị với Hoàng  kỳ làm giảm thiểu rõ rệt các triệu chứng đau thắt ngực, đồng thời các thông số điện tâm đồ cải thiện tốt trên 82.6% tổng số BN7

 

Ngoài saponins và polysaccharides, 8 thành phần flavonoids cũng đã được xác định có mặt trong rễ cây Hoàng kỳ. Chúng góp phần đáng kể làm giảm các gốc ô-xi hóa tự do, giảm quá trình hoạt hóa enzyme peroxidase, bảo vệ tim mạch. Các quan sát lâm sàng khác về tác dụng của Hoàng kỳ cũng góp phần chứng minh được khả năng bảo vệ chức năng thận và gan khỏi các độc tố tích tụ trong cơ thể. 

 

 

Ảnh 2: Hoàng kỳ dạng phiến

 

Về mặt kết hợp dược liệu với Tây y, một nghiên cứu được đăng trên tạp chí International Journal of Immunopharmacology từ năm 1997 cho thấy tác dụng hỗ trợ của Hoàng kỳ với thuốc tái tổ hợp IFN-1 trong chữa trị viêm cổ tử cung mạn tính do virus8. Ngoài ra, giới khoa học vẫn đang quan tâm và tiếp tục làm sáng tỏ khả năng ứng dụng của Hoàng kỳ trong việc làm giảm các tác dụng phụ gây ra bởi thuốc ức chế miễn dịch như corticosteroid hoặc cyclosporine trên bệnh nhân điều trị ung thư hoặc ghép tạng9 .

 

Hoàng kỳ hầu như không có độc tính. Thí nghiệm lâm sàng trên chuột với liều lượng 100 g/kg dạng nguyên liệu thô (raw herb) không gây ra bất kỳ phản ứng phụ nào. Tinh chất dạng cao theo phương pháp chiết bằng rượu từ rễ Hoàng kỳ có thể cho BN dùng với liều 2-4 ml, 3 lần/ ngày. Chỉ số LD50 (liều lượng hoạt chất gây chết cho 50% số lượng cá thể dùng trong nghiên cứu với động vật) là 40 g/kg khi tiêm qua màng bụng10

 

Y học cổ truyền từ lâu đã sử dụng Hoàng kỳ như một trong những vị thuốc quan trọng chính có tác dụng bổ khí, thăng dương, ích khí, sinh huyết, giải độc. Quyển sách chuyên ngành dược vật học đầu tiên thời Đông Hán "Thần Nông bản thảo kinh" đã xếp Hoàng kỳ vào nhóm thượng phẩm, tác dụng bổ khí toàn thân. Liều dùng trong YHCT thường là 10 -20 gram dưới dạng thuốc sắc, hoặc cao. Hoàng kỳ dùng sống có công dụng lợi tiểu, chữa tiểu buốt, tiểu đục, đái tháo đường, giải độc, sinh cơ (chữa ung nhọt lở loét lâu lành). Hoàng kỳ tẩm mật sao có tác dụng ôn trung, cố biểu, bổ khí huyết, tỳ vị. Hoàng kỳ tẩm muối bổ thận.

 

Hoàng kỳ là một vị thuốc quý, vốn được sử dụng từ lâu trong Y học cổ truyền và đang ngày càng được quan tâm nghiên cứu ứng dụng trong y học hiện đại phương Tây nhờ vào các tác dụng dược lý có hiệu quả rất tốt trên lâm sàng của nó. Tuy nhiên, cũng như nhiều vị thuốc từ dược liệu khác, các mô hình dược động học và dược lực học của Hoàng kỳ vẫn chưa được nghiên cứu đầy đủ; do đó, y học hiện đại vẫn còn rất nhiều điều để khám phá về vị thuốc quý này.

     DS. Hồ Quý Phương
Khoa Dược – KSNK
 

Tài liệu tham khảo:

1-Complementary and Alternative Medicine Guide. Medical Center - University of  Maryland.

2-Astragalus membranaceus. Alternative Medicine Review. Volume 1 Number 8.2003:72-77.

3-Ma XQ, Shi Q, Duan JA, et al. Chemical analysis of Radix astragali (Huangqi) in China: a comparison with its adulterants and seasonal variations. J Agric Food Chem 2002;50:4861-4866.

4-Jiao Y, Wen J, Yu X. Influence of flavonoid of Astragalus membranaceus's stem and leaves on the function of cell mediated immunity in mice. Zhongguo Zhong Xi Yi Jie He Za Zhi 1999;19:356-358

5-Weng XS. Treatment of leucopenia with pure Astragalus preparation – an analysis of 115 leucopenic cases. Zhongguo Zhong Xi Yi Jie He Za Zhi 1995;15:462-464. [Article in Chinese]

6-Chen LX, Liao JZ, Guo WQ. Effects of Astragalus membranaceus on left ventricular function and oxygen free radical in acute myocardial infarction patients and mechanism of its cardiotonic action. Zhongguo Zhong Xi Yi Jie He Za Zhi 1995;15:141-143

7-Li SQ, Yuan RX, Gao H. Clinical observation on the treatment of ischemic heart disease with Astragalus membranaceus. Zhongguo Zhong Xi Yi Jie He Za Zhi 1995;15:77-80.

8-Qian ZW, Mao SJ, Cai XC, et al. Viral etiology of chronic cervicitis and its therapeutic response to a recombinant interferon. Chin Med J (Engl) 1990;103:647-651.

9-Miller LG. Herbal medicinals: selected clinical considerations focusing on known or potential drug-herb interactions. Arch Intern Med 1998;158:2200-2211.

10-Chang H, But P. Pharmacology and Applications of Chinese Materia Medica, Vol 2.Singapore: World Scientific; 1987:1041-1046.    

In Quay lại chia sẻ bài viết

Các tin khác

z

Thông Báo Về việc thay đổi địa chỉ trụ sở làm việc

DANH MỤC DỊCH VỤ GIÁ VIỆN PHÍ SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN

DANH MỤC DỊCH VỤ GIÁ BHYT SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN THEO TT 13/2019/TT-BYT ÁP DỤNG TỪ NGÀY 20/08/2019 THEO TT 13/2019/TT-BYT ÁP DỤNG TỪ NGÀY 20/08/2019

DANH MỤC GIÁ DỊCH VỤ YÊU CẦU

Kế hoạch Phòng, chống thiên tai và tìm kiếm, cứu nạn năm 2021 trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19

BÁO CÁO Kết quả tự kiểm tra, đánh giá chất lượng bệnh viện 6 tháng đầu năm 2021

Kết quả triển khai tuyên truyền Nghị định số 34/2021/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ

KẾ HOẠCH Tuyên truyền Nghị định số 34/2021/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ

QUYẾT ĐỊNH Về việc Ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội

KẾ HOẠCH Triển khai cơ sở y tế “xanh – sạch – đẹp, giảm thiểu chất thải nhựa" năm 2021 tại Bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Đà Nẵng

3 8 5 9 4 9 4
Hôm nay: 0
Tháng này: 10032
Tổng cộng: 3859494