BÀI THUỐC “THẦN TIÊN GIẢI NGỮ ĐAN” VÀ CHỨNG THẤT NGÔN TRÊN BỆNH NHÂN TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

Ngày đăng bài: 2016-08-09 14:43:27
        Xem với cỡ chữ    

 

Thất ngôn là tình trạng rối loạn ngôn ngữ do tổn thương bán cầu não, điển hình do tai biến mạch máu não. Theo Y học cổ truyền, thất ngôn thuộc phạm trù thiệt cương, thiệt ám, bất ngữ… Bệnh cơ là do phong đàm trở ngại kinh lạc, kinh lạc bất thông, khí huyết trở ngại, kinh mạch không được nuôi dưỡng mà dẫn tới lưỡi cứng, không nói được.

 

 

I. Tai biến mạch máu não và thất ngôn theo Y học hiện đại

1.1. Giải phẫu sinh lý bán cầu đại não liên quan đến chức năng ngôn ngữ

- Vùng Broca nằm ở phần sau của hồi trán dưới có chức năng lập trình và thực hiện các cử động nói. Đây là vùng chi phối vận động của các cơ quan tham gia vào động tác phát âm như: thanh quản, môi, lưỡi... Khi vùng này tổn thương thì bị chứng câm nhưng vẫn hiểu lời, hiểu chữ.

- Vùng Wernicke nằm ở phần sau của hồi thái dương trên có vai trò trong hiểu những âm thanh nghe thấy, liên hệ với hồi trên viền và hồi góc, đóng vai trò quan trọng trong giải mã ngôn ngữ. Vùng này không chỉ chi phối lời nói mà còn cho ta hiểu lời, hiểu chữ... Khi vùng Wernicke bị tổn thương thì bị chứng câm kèm thêm không hiểu lời, hiểu chữ...

- Dải hình cung nối vùng Broca với vùng Wernicke. Tổn thương dải hình cung sẽ làm bệnh nhân khó khăn khi nhắc lại những điều vừa nghe thấy do thông tin khó luân chuyển giữa vùng Broca và Wernicke. Phức hợp vùng Broca – dải hình cung – vùng Wernicke đặc biệt quan trọng với chức năng ngôn ngữ và lời nói.

1.2. Khái niệm thất ngôn và phân loại

Thất ngôn là tình trạng rối loạn ngôn ngữ do tổn thương bán cầu não, điển hình do tai biến mạch máu não, bao gồm một hoặc nhiều các rối loạn chức năng về hiểu lời nói, hiểu chữ viết, thể hiện bằng lời nói và bằng chữ viết. Có một số dạng thất ngôn cơ bản như sau:

- Thất ngôn kém lưu loát: Khi người bệnh có thể hiểu nhưng không thể thể hiện, bày tỏ được điều họ muốn nói.

- Thất ngôn lưu loát: Khi người bệnh có thể nói một cách lên xuống theo ngữ điệu nhất định nhưng nội dung phát ngôn không rõ, không phải là câu hoàn chỉnh. Họ không thể hiểu câu, từ mà họ nghe thấy.

- Thất ngôn hỗn hợp: Khi người bệnh vừa bị hiểu kém vừa nói kém.

- Thất ngôn toàn bộ: Khi người bệnh không thể hiểu hoặc không thể nói ra bằng bất kỳ hình thức nào (nói, viết, vẽ hoặc dùng dấu).

II. Tai biến mạch máu não và thất ngôn theo Y học cổ truyền

Theo Y học cổ truyền, tai biến mạch máu não thuộc chứng trúng phong, bệnh phát ra gấp vội, triệu chứng xuất hiện nhiều cách biến hóa, phù hợp với tính thiện hành đa biến của phong. Thất ngôn là một trong những chứng hậu của trúng phong.

2.1. Phân loại thất ngôn: Tùy theo chứng trạng trên lâm sàng phân làm 3 thể:

2.1.1. Phong đàm trở lạc:

- Triệu chứng: Phong đàm trở tắc ở trên, kinh lạc mất điều hòa, gây nên lưỡi cứng, nói ngọng, chân tay tê dại, lưỡi bệu rêu lưỡi trắng nhớt, mạch huyền hoạt.

- Pháp điều trị: Trừ phong đàm, tuyên khiếu, thông lạc.

- Bài thuốc: Thần tiên giải ngữ đan.

2.1.2. Thận hư tinh suy:

- Triệu chứng: Thanh âm yếu, không nói được, tâm quý, đoản khí, eo lưng đầu gối đau mỏi.

- Pháp điều trị: Tư âm bổ thận, lợi khiếu.

- Bài thuốc: Địa hoàng ẩm tử gia giảm.

 2.1.3. Can dương thượng cang, đàm tà trở khiếu:

- Triệu chứng: Không nói được, chóng mặt hoa mắt, mắt đỏ mặt đỏ, mạch huyền hoạt.

- Pháp điều trị: Bình can tiềm dương, hóa đàm khai khiếu.

- Bài thuốc: Thiên ma câu đằng ẩm. Hoặc bài Trấn can tức phong thang gia thạch xương bồ, viễn chí, nam tinh, thiên trúc hoàng.

2.2. Cơ sở lý luận về chứng thất ngôn theo Y học cổ truyền

Thất ngôn hậu trúng phong thuộc phạm trù thiệt cương, thiệt ám, bất ngữ… Bệnh cơ của bệnh là do phong đàm trở ngại kinh lạc, kinh lạc bất thông, khí huyết trở ngại, kinh mạch không được nuôi dưỡng mà dẫn tới lưỡi cứng, không nói được.

Thất ngôn theo ghi chép cổ đại có bệnh cơ đa dạng. "Trung tàng kinh" có nói: "tâm tỳ đều trúng phong mà lưỡi cứng không thể nói, tỳ thông vị, liên lạc với lưỡi, hai tạng bị trúng phong, lưỡi cứng mà không nói được". "Ngoại thác thư yếu" viết: "Can phong mà miệng không nói được, tỳ phong mà lời không ra". Bệnh cơ của trúng phong có thể quy nạp lấy: Phong, hỏa, đàm, ứ trệ. Bốn thứ tà khí làm tổn thương bốn tạng: tâm, can, tỳ, thận. Tâm chủ thần minh, tâm khí thông với lưỡi, tâm thần thất dưỡng, có xuất hiện thiệt cương, ngôn ngữ không lợi. Não là phủ của nguyên thần, phong trúng vào lạc của não, làm cho mạch não tắc trở, khí huyết không lưu thông hoặc thận suy tinh hao, phong-hỏa-đàm trong kinh lạc làm trở ngại các khiếu, thậm chí làm thần mê, thất ngôn.

III. Bài thuốc Thần tiên giải ngữ đan (theo sách "Phụ nhân đại toàn lương phương")

Bạch phụ tử       30g

Thạch xương bồ     30g

Viễn chí          30g

Cam thảo           30g

Thiên ma                30g

Toàn yết          30g

Khương hoạt      30g

Đởm nam tinh        30g

Mộc hương     15g

 Các vị thuốc trên tán nhỏ, hoàn với bột thành viên, uống với nước sắc Bạc hà.

- Tác dụng: Khai khiếu hóa đàm, thông lạc tức phong.

- Điều trị chứng trúng phong do phong đàm trệ lạc, với biểu hiện: Rối loạn ngôn ngữ, ho khạc đàm, rêu lưỡi dầy nhớp, mạch huyền hoạt.

- Phân tích:

Bài thuốc này điều trị chứng trúng phong gây rối loạn ngôn ngữ trên bệnh nhân có bẩm tố đa đàm, phong động làm đàm tán loạn và trệ ở hai kinh tâm tỳ mà gây nên. Tâm khai khiếu ở lưỡi, biệt lạc của tâm ở gốc lưỡi. Kinh tỳ đi lên yết hầu, liên tiếp với gốc lưỡi rồi tản ra ở dưới lưỡi. Nếu phong đàm nghịch loạn, trú ở tâm tỳ làm trệ tắc kinh lạc mà gây nên hội chứng đột ngột bị rối loạn ngôn ngữ, hoặc khó nói. Đàm dãi chảy nhiều, rêu lưỡi dầy nhớp, mạch huyền hoạt đều là chứng đàm trọc ủng thịnh. Nguyên nhân bệnh sinh của chứng này là do phong đàm phạm lạc, tâm khiếu bế trệ nên pháp điều trị phải dùng khai khiếu hóa đàm, thông lạc tức phong.

Trong bài thuốc này, Bạch phụ tử tính vị cay ngọt và nóng, quy kinh tỳ vị; có tác dụng táo thấp hóa đàm, khứ phong chỉ kinh nên thường dùng điều trị chứng phong đàm ở đầu mặt. Toàn yết có tính vị cay bình; có tác dụng tức phong chỉ kinh, thông lạc chỉ thống, điều trị chứng nội ngoại phong. Hai vị thuốc này đều là quân dược. Khương hoạt có vị cay thơm, có tác dụng khứ phong tán tà. Thiên ma có tác dụng tức phong chỉ kinh, bình can tiềm dương để điều trị chứng phong đàm gây rối loạn ngôn ngữ. Đởm nam tinh có tính vị đắng mát, giúp quân dược thanh nhiệt hóa đàm tức phong. Ba vị thuốc này hợp lại giúp quân dược khứ phong bình can hóa đàm, nên đều là thần dược. Thạch xương bồ và Viễn chí có tác dụng ngoan đàm lợi khiếu, khai thông tâm khí. Mộc hương có tác dụng hành khí hòa vị là cho khí thuận mà đàm tiêu. Bạc hà có tác dụng tức phong lợi yết. Cả bốn vị thuốc này có tác dụng khai khiếu thuận khí lợi yết nên đều là tá dược. Cam thảo điều hòa các vị thuốc nên là sứ dược.

- Chú ý: Bài thuốc thiên về ôn tán, có độc cho nên không nên dùng nhiều và lâu.

                

                                                                                                                 Bs Công Lý

In Quay lại chia sẻ bài viết

z

Thông Báo Về việc thay đổi địa chỉ trụ sở làm việc

DANH MỤC DỊCH VỤ GIÁ VIỆN PHÍ SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN

DANH MỤC DỊCH VỤ GIÁ BHYT SỬ DỤNG TẠI BỆNH VIỆN THEO TT 13/2019/TT-BYT ÁP DỤNG TỪ NGÀY 20/08/2019 THEO TT 13/2019/TT-BYT ÁP DỤNG TỪ NGÀY 20/08/2019

DANH MỤC GIÁ DỊCH VỤ YÊU CẦU

Kế hoạch Phòng, chống thiên tai và tìm kiếm, cứu nạn năm 2021 trong bối cảnh dịch bệnh COVID-19

BÁO CÁO Kết quả tự kiểm tra, đánh giá chất lượng bệnh viện 6 tháng đầu năm 2021

Kết quả triển khai tuyên truyền Nghị định số 34/2021/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ

KẾ HOẠCH Tuyên truyền Nghị định số 34/2021/NĐ-CP ngày 29 tháng 3 năm 2021 của Chính phủ

QUYẾT ĐỊNH Về việc Ban hành Bộ Quy tắc ứng xử trên mạng xã hội

KẾ HOẠCH Triển khai cơ sở y tế “xanh – sạch – đẹp, giảm thiểu chất thải nhựa" năm 2021 tại Bệnh viện Y học cổ truyền thành phố Đà Nẵng

3 8 5 9 4 5 1
Hôm nay: 0
Tháng này: 9989
Tổng cộng: 3859451